Việc Thanh Hóa chuyển sang quản lý vật liệu xuyên suốt từ mỏ đến công trình đưa ra một lưu ý thực tế cho chủ đầu tư nhà xưởng: dự toán chỉ đáng tin khi nguồn cung được kiểm chứng về khả năng khai thác, chủng loại, khoảng cách vận chuyển và giá giao đến địa điểm thi công. Nếu chỉ căn cứ vào số mỏ đã được cấp phép hoặc bảng giá danh nghĩa, dự án vẫn có thể thiếu vật liệu, tăng chi phí và kéo dài tiến độ.
Năm 2026, Thanh Hóa ước cần 58,59 triệu m³ đất đắp nhưng khả năng cung ứng, kể cả nguồn thu hồi khoáng sản, chỉ đạt khoảng 37,3 triệu m³, tương đương 63,7%. Cát xây dựng dự kiến có 5,16 triệu m³ so với nhu cầu 9,6 triệu m³, đạt 53,8%. Trái lại, đá xây dựng đạt khoảng 17,19 triệu m³, bằng 171% nhu cầu, nhưng một số vùng miền núi vẫn thiếu do không có mỏ, vận chuyển xa hoặc sản phẩm chưa phù hợp.
Sự chênh lệch này cho thấy tổng công suất toàn tỉnh không phản ánh đầy đủ điều kiện tại từng dự án. Trong 60 mỏ đất đã được cấp phép, 20 mỏ đang tạm dừng; 36 trong tổng số 219 mỏ đá chưa hoạt động trở lại; với cát tự nhiên, chỉ 8/23 mỏ đủ điều kiện hoạt động trong năm 2026. Vì vậy, khi chuẩn bị dự án nhà máy, chủ đầu tư cần xác minh mỏ nào thực sự đang khai thác và có thể cung cấp đúng thời điểm.
Cách làm của Thanh Hóa đặt trách nhiệm lên cả chủ mỏ, chủ đầu tư, tư vấn và nhà thầu. Website giavlxdthanhhoa.vn được dùng để công khai giá, thông tin mỏ, trữ lượng còn lại và khả năng cung ứng. Đã có 165/173 đơn vị ký cam kết cung cấp thông tin trung thực, không găm hàng hoặc hạn chế nguồn cung; 181 doanh nghiệp công bố giá trên hệ thống.
Đối với người chuẩn bị đầu tư, các dữ liệu cần được kiểm tra đồng thời gồm:
Trong quý III/2026, giá đá xây dựng tại Thanh Hóa tăng khoảng 5 - 15% so với quý II, 20 - 38% so với quý I và 34-59% so với quý IV/2025, tùy chủng loại. Trong 683 dự án do cấp xã, phường quản lý, 12 dự án tại 8 địa phương phản ánh chậm tiến độ có liên quan đến biến động giá, với mức tăng so với hợp đồng khoảng 4,4 - 50%; các dự án này còn gặp khó khăn giải phóng mặt bằng.
Với công trình dùng kết cấu thép, rủi ro vật liệu không chỉ nằm ở phần khung mà còn liên quan đến đất đắp, nền móng, bê tông và hạ tầng. Do đó, tiến độ gia công và lắp dựng cần được phối hợp với lịch cung ứng vật liệu nền móng, tránh tình trạng cấu kiện đã sẵn sàng nhưng mặt bằng chưa đủ điều kiện tiếp nhận.
Thanh Hóa cũng có 24 cơ sở đầu tư dây chuyền cát nghiền, trong đó 23 cơ sở đang hoạt động với công suất khoảng 2,27 triệu m³/năm, đáp ứng khoảng 23,6% nhu cầu cát năm 2026. Vật liệu thay thế có thể được xem xét khi đạt yêu cầu kỹ thuật. Với dự án nhà kho, bài học cốt lõi là xác định nguồn gần công trình ngay từ bước chuẩn bị, có phương án dự phòng phù hợp và cập nhật giá thực tế trước khi khóa tổng mức đầu tư.
Thông tin và hình ảnh tham khảo từ Báo Xây dựng - Xây dựng: Thanh Hóa đổi cách quản lý vật liệu xây dựng, kiểm soát từ mỏ đến công trình